Hoa Văn Trống Đồng Có Ý Nghĩa Gì ? Nguồn Gốc Và Văn Hóa

Hoa Văn Trống Đồng 7

Từ thời xa xưa trống đồng đã được xem là một trong những bảo vật của dân tộc Việt Nam. Đến hiện nay trống đồng vẫn rất được yêu thích và nhiều gia đình sử dụng để làm quà tặng trang trí nội thất. Tuy nhiên thì không phải bất kì những ai sở hữu trống đồng đều hiểu được ý nghĩa và sự tinh xảo của hoa văn trống đồng. Trong bài viết này hãy cùng Điêu Khắc Sài Gòn ART khám phá những ý nghĩa của hoa văn trống đồng nhé!

Hoa Văn Trống Đồng 1

Hình ảnh trống đồng có nguồn góc từ đâu?

Người đã đứng ngoài của cuộc tranh luận này, ông Charles Higam – Một học giả phương tây đã đưa ra được các giả thuyết rằng trống đồng đã được sáng tạo bởi các nghệ sĩ tài hoa của một nhóm người có tố chức ngày càng phức tạp hơn với địa bàn trải dài xuyên suốt biên giới Việt – Trung hiện đại, để có thể trang bị cho các chiến binh và làm biểu tượng cho vị thế cao của những người lãnh đạo.

Ông viết rằng: “Việc tìm kiếm nguồn gốc tại một vùng này hay vùng khác đã bỏ qua điểm quan trọng. Các thay đổi đã được thực hiện suốt từ vùng mà ngày nay là miền Nam Trung Hoa tới đồng bằng sông Hồng bởi các nhóm người mà thời đó đã trao đổi hàng hóa, tư tưởng, và cùng chống lại sự bành trướng từ phía Bắc của một quốc gia hùng mạnh và hiếu chiến”

Hoa Văn Trống Đồng 2

Quan điểm của ông nêu ra cũng tương đồng với những gì mà các nhà nghiên cứu tại Việt Nam đưa ra, Trung Quốc cũng đồng tình với điều này, hay đối với phương Tây trống đồng chính là sản phẩm của người Lạc Việt –  tộc người Việt cổ được cho là có địa bàn sinh sống trải dài từ miền nam Trung Quốc tới miền Bắc Việt Nam.

Hoa Văn Trống Đồng 3

Ý nghĩa của trống đồng trong văn hóa xưa

Trống đồng là một loại nhạc cụ đã được xuất hiện vào thời xưa tại vùng Đông Nam Á và Miền Nam Trung Quốc, xuất hiện từ thời đại đồ đồng.

Hoa Văn Trống Đồng 5

Ngoài chức năng là một dụng cụ để làm nhạc khí mà còn có nhiều chức năng khác tiêu biểu hơn cho quyền lực của tôn giáo. Theo tín ngưỡng của người Việt thì trống đồng là một linh vật có vị thần tự xưng là thần trống đồng, tức là Thần đồng Cổ đại xưa đã giúp cho triều đại Việt Nam ta trong việc giữ nước hộ cho dân và trải dài khắp từ thời Vua Hùng, đến nhà Lý, nhà Trần,…

Hoa Văn Trống Đồng 6

Trong các ý nghĩa truyền thống của tôn giáo, trong các lễ hội trong các cuộc chiến tranh thì trống sẽ được thủ lĩnh sử dụng để kêu gọi mọi người từ trên khắp mọi nơi để cùng nhau chiến đấu. Tiếng trống âm vang xa rất nhiều, hùng tráng và quyết liệt như truyền sức mạnh cho đoàn quân tiến lên.

Hoa Văn Trống Đồng 7

Có thể thấy rằng trống là iểu tượng của quyền lực và sẽ thường thuộc về những người thủ lĩnh, người đứng đầu. Người thũ lỉnh có quyền lực khi càng lớn thì trống sẽ càng to và đẹp. Trong nét văn hóa cửa người Việt, trống đồng cũng được coi là một tài sản quý giá, được chôn lúc người chủ qua đời.

Hoa Văn Trống Đồng 8

Cho đến ngày nay thì tên tuổi của trống đồng đã trở thành một phần trong lịch sử, mặc dù không được nhiều người chú ý đến nhưng trống đồng vẫn còn được trưng bày và lưu giữ sang trọng tại trong các viện bảo tàng lớn và các địa phương, thì dường như trống đồng đã trở nên vắng bóng trong cuộc sống đời thường kể cả những dịp hội hè, lễ tết, người ta sẽ chỉ còn bắt gặp trống đồng ở các viên bảo tàng và trong truyện cổ tích.

Hoa Văn Trống Đồng 9

Tuy vậy, ở vùng đất Thanh Sơn trong khu vực miền tây của tỉnh Phú Thọ là nơi duy nhất tại Việt Nam vẫn còn ngày lễ hội Trống đồng của người dân tộc Mường với “Đâm Đuống” và “Chàm thau”. Đây cũng là một trong số những nơi của Việt Nam phát hiện được nhiều trống đồng trong lòng đất nhất. Chính vì lý do đó mà gần đây Việt Nam cũng đã dần khôi phục một tập tục đánh trống đồng ngày giỗ Tổ các vua Hùng 10 tháng 3 Âm lịch hàng năm.

Hoa Văn Trống Đồng 10

Ở Việt Nam trống đồng cũng là nhạc cụ gõ phổ biến trong các dân tộc Khơ Mú, Lô Lô và Mường hiện nay. Trong những cộng đồng này người ta sử dụng nó với mục đích tang lễ, ngoài ra không dùng cho bất kỳ trường hợp nào khác.

Phân loại trống đồng

Theo như nhà khảo cổ học người Áo Franz Heger đã phân loại:

Trống đồng Hoàng Hạ, loại Heger I, được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

  • Trống Heger I, còn có tên gọi là trống Đông Sơn. Trống loại này thường lớn, thân trống hình trụ thẳng đứng. Mặt dưới để trống, mặt trên có hình sao đúc nổi với 12 cánh. Trên một số trống, chỉ có 8 cánh sao, như trống đồng Quảng Xương, hoặc 14 cánh như trống đồng Ngọc Lũ, Sông Đà, Thượng Lâm. Hoặc 16 cánh như Hoàng Hạ, Salayar. Trống loại này được tìm ở khắp vùng Đông Nam Á, nhưng tập trung nhiều nhất ở Việt Nam.

Trong danh sách các trống Heger I, tiêu biểu nhất là các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, và Sông Đà.

Trống đồng Lạng Sơn, loại Heger II, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

  • Trống Heger II: thân của trống chỉ có 2 phần, không có hình người hay vật nữa, thay vào đó toàn là hoa văn hình học. Trên mặt trống thường được điêu khắc hình khối bốn con cóc, đôi khi sáu con. Mặt trời có 8 tia. Loại này phân bố ở vùng Quảng Đông và Quảng Tây, Trung Quốc; ở Việt Nam cũng có nhiều loại trống này và còn được người Mường sử dụng, nên có người gọi là trống Mường.

Trống đồng Tân Độ, loại Heger III, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

  • Trống Heger IIIcó quai nhỏ đẹp. Mặt trời có 12 cánh. 4 góc mặt có cóc, thường là ba con chồng lên nhau thành 12. Trang trí toàn bằng họa tiết hình học và hoa văn. Dưới chân có đoàn voi đúc nổi đi chung quanh cây “đời sống”. Đôi khi ốc thay voi. Được phát hiện ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanma và Vân Nam (Trung Quốc).

Trống đồng Long Đọi Sơn, loại Heger IV, trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

  • Trống Heger IVcó kích thước thường nhỏ, không có cóc. Ngôi sao bao giờ cũng 12 tia, nhiều khi rõ tên 12 con vật địa chi. Tìm thấy ở Trung Quốc và Việt Nam.

Theo như cách đã phân loại này thì trống đồng Heger I đã là trống đồng cổ xưa nhất. Trong số đó thì trống đồng Ngọc Lũ được cho là phiên bản đẹp nhất của Trống đồng Đông Sơn.

Trống Ngọc Lũ được coi là trống quan trọng nhất trong các trống Đông Sơn. Chiếc trống được tình cờ phát hiện vào năm 1893 tại tỉnh Hà Nam, phía đông nam Hà Nội, thay vì trong một chuyến thám hiểm dự kiến. Trái ngược với hầu hết các trống đồng Đông Sơn khác, mặt đàn có ba tấm đồng tâm khắc hình động vật hoặc con người, xen kẽ với các dải hoa văn hình học hoặc hình tròn. Bảng điều khiển trong cùng dường như là một mô tả tự tham chiếu, vì nó được trang trí bằng hình ảnh của những người dường như đang thực hiện một nghi lễ liên quan đến chính những chiếc trống. Các nhạc cụ khác và các hoạt động trồng và thu hoạch lúa cũng được trình diễn. Hai tấm bên ngoài được trang trí bằng các cảnh hươu, nai sừng tấm và cò hạc.

Trống Hoàng Hạ được phát hiện ở tỉnh Hà Sơn Bình năm 1937 gần làng Hoàng Hạ, với mặt ngoài là những con nghê hạc và mặt trong có hình một đám rước tương tự như trống Ngọc Lũ, nổi tiếng nhất của trống đồng. Trống đồng Đông Sơn. Bốn người đàn ông lông vũ được miêu tả đang đi trên một hàng, vung giáo, với hai nhạc công theo sau. Một người được miêu tả đang đứng dưới mái hiên của một ngôi nhà, đánh trống trong khi cánh đồng lúa không có người trông coi, để cho một con chim ăn lúa dự định đập lúa. Những chiếc thuyền được mô tả trên lớp áo của trống rất giống nhau, với một chiếc mũi khoét tương tự, cung thủ đứng trên bục cao và một chiếc trống. Tuy nhiên, trống đồng khác với trống đồng Ngọc Lũ ở chỗ không có con vật.

Trống Sông Đà được phát hiện ở tỉnh Hà Sơn Bình vào thế kỷ 19. Trống thể hiện một đám rước tương tự như được mô tả trên trống Ngọc Lũ, nổi tiếng nhất của trống Đông Sơn. Chiếc trống này khác nhau ở chỗ nó mô tả bốn bộ người đàn ông trong đám rước với mũ đội đầu bằng lông vũ, thay vì hai chiếc. Ngoài ra, mỗi nhóm bao gồm ba hoặc bốn người mà không ai trong số họ dường như được trang bị vũ khí. Tư thế của những người đàn ông được hiểu là họ đang tham gia một buổi khiêu vũ chứ không phải là một nghi lễ quân đội. Trong trống này chỉ có một cặp người đang tuốt lúa và không có người chơi chũm chọe. Tuy nhiên, các họa tiết chung, chẳng hạn như những con thuyền trên lớp áo, vẫn được giữ nguyên.

Hoa văn trống đồng có ý nghĩa gì?

Nhìn các chi tiết hoa văn trống đồng được khắc họa thì có thể thấy đây là các hình mang tính chất biểu tượng, ước lệ và cách điệu cao. Từng đường nét chị tiết hoa văn trên trống khúc triết, đơn giản mà tự nhiên, sinh động nhất ( hình người, chim, thú, nhà, thuyền,….).

Trống đồng Đông Sơn là sản phẩm của kỹ thuật đúc đồng tuyệt vời của người Việt cổ. Hàng trăm khuôn đúc bằng đất nung và đá đã được phát hiện ở các làng Việt cổ và các ngôi mộ cùng thời đại. Trên địa bàn văn hóa Đông Sơn đã tìm thấy nhiều hiện vật, cổ vật bằng đồng phong phú hơn đồ sắt.

Hoa Văn Trống Đồng 11

Những chiếc trống đồng lớn được đúc bằng kỹ thuật điêu luyện mà các chuyên gia cho rằng đó là phương pháp đúc bằng sáp đã mất. Đó là quá trình mà một tác phẩm điêu khắc kim loại trùng lặp được đúc từ một tác phẩm điêu khắc ban đầu. Ngày nay chúng ta không thể sản xuất những chiếc trống hoàn hảo như vậy bằng phương pháp đúc truyền thống.

“Vẻ đẹp của trống đồng Đông Sơn nằm ở việc chúng thể hiện những hình thái sơ khai và nghề trồng lúa nước của chúng ta. Những chiếc trống do người Đông Sơn tạo ra và được cho là biểu tượng tâm linh và sức mạnh của họ ”, ông Sinh nói.

Hoa Văn Trống Đồng 12

Những phiên bản của trống Đồng Đông Sơn như đã nhắc ở trên là Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Quảng Xương,…mà những hình tượng ngôi sao nhiều cảnh biểu tượng cho mặt trời được thể hiện khác nhau. Xung quanh sẽ có các vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng đều có một hình trang trí, trong đó sẽ có ba vòng được trang trí hình con người và vật, một vòng hình hươu và chim xen kẽ, một vòng thì có hình loại chim ăn cá, con đứng, con bay.

Kể từ ngày cái trống này được moi ra khỏi chổ chôn giấu đến nay, những hình vẽ trên mặt trồng vẫn là một thách đố đối với các nhà khảo cổ học, cũng như với nhân dân Việt Nam muốn tìm hiểu nó định nói cái gì ?

Phải gọi là rất kính phục và cảm ơn các nhà khảo cổ Tây phương nhất là ở trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, để rất nhiều năm tháng và tâm tư cùng đem những sử học, mày mò, khảo sát, suy luận và giả thiết. Các vị ấy đã viết nên cả những bộ sách lớn khiến trống đồng trở thành một vật nổi tiếng trên Thế Giới. Nhờ các vị mà rất đông những nhà học giả của nước chúng tôi khi đề cập đến di sản văn hoá này cũng đã khiến được cho quần chúng bình dân biết đại khái rằng ngày xưa các bộ lạc của tổ tiên mình thờ vật tổ là con chinh tên là Lạc, thờ thần mặt trời ( vì hình vẽ ở trung tâm mặt trời loé ra nhiều tia sáng),lại có những hình người đội mũ cánh chim, mặc áo xòe ra như lông cánh chim, rồi có cả mắt chim ở đầu mũi thuyền, đầu mũi tên, trên mái chèo, bánh lái thuyền, …

Nhiều vị xác quyết rằng bộ lạc cổ xưa này sau đó di cư đến các hải đảo Thái Bình Dương, nên có liên hệ bà con với bộ lạc Dayak ở Bornéo, còn có hình thuyền giống như trên trống dùng vào dịp tang lễ. Nhiều vị khác còn thêm tại miền Bắc có bộ lạc hay hoá trang cái đầu thành đầu chim trong lễ nghi cúng kiếng theo điệu trống đồng.

Trống vốn không biết nói, cũng không biết thế nào mà dám cãi. Thôi thà tuỳ người ta nhớ được một tiền tích nào ở đâu thì sẵn ghép cho nó những nội dung khác nhau. Ra sao nó cũng phải chịu.

Các hoa tiết hình thuyền chiến, thuyền đua, xương cá, các loại cá, rắn, nhà sàn, lầu gác cho thấy ngành ngư-lâm cũng rất quan trọng và phát triển trong sinh hoạt lúc bấy giờ. Người dân đã biết khai thác rừng để làm nhà ở, lấy gỗ đóng thuyền dùng trong ngư nghiệp và làm phương tiện di chuyển. Các dụng cụ sinh hoạt hàng ngày, và vũ khí gươm giáo chống giặc.

Hoa Văn Trống Đồng 13

Trong thời Cổ đại, có một số bộ phận người chuyên sống với nghề biển, sông hồ. Do đó, họ biết khai thác các chiến thuyền để chống ngoại xâm bảo vệ xứ sở và phát triển nghề đánh bắt cá, ốc sò để làm đa dạng tăng thêm lương thực. Đây cũng là lý do nhiều trống đồng được tìm thấy ở Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và vài nước Đông Nam Á.

Hoa Văn Trống Đồng 14

Các họa tiết hình vũ công múa hát, hóa trang trong lễ hội, tục đối đáp khắc trên trống đồng, và hoạt cảnh hát hò trong khi chèo thuyền, đánh cá, làm ruộng…. Trong nhà sàn, từng cặp nam nữ ngồi đối diện, lồng tay chân nhau cùng ca hát, đối đáp . Từng hoạt cảnh khắc nối tiếp nhau cho thấy đời sống văn hóa thời điểm này cũng rất sống động, các lễ hội được tổ chức theo chu kì.